Khi cầm một cuốn sách cổ dịch ra tiếng Việt, ta thường nghĩ mình đang đọc lời người xưa. Đúng một phần. Phần còn lại là cả một chuỗi trung gian, mỗi mắt xích đều có thể thêm, bớt và sửa.
Bài này đi theo chuỗi ấy từ đầu tới cuối, không phải để gieo hoài nghi, mà để biết chỗ nào đáng tin tới đâu.
Vật liệu viết quyết định hình dạng văn bản
Trước khi có giấy, văn bản được viết trên thẻ tre hoặc lụa. Thẻ tre nặng, cồng kềnh, và số chữ trên mỗi thẻ có hạn, nên văn phong buộc phải cực kỳ cô đọng.
Điều đó giải thích một phần vì sao các bản văn cổ nhất lại ngắn và tối nghĩa tới vậy. Không phải người xưa thích bí hiểm; họ viết trên vật liệu đắt và khó.
Thẻ tre được xâu bằng dây. Dây mục thì thẻ rời ra, và khi xâu lại có thể sai thứ tự. Giới nghiên cứu văn bản cổ biết rõ hiện tượng này, và nó giải thích một số chỗ mạch văn đứt quãng khó hiểu.
Khi giấy phổ biến, văn bản dài hơn, chú giải nở ra, và việc sao chép dễ hơn nhiều. Nhưng giấy cũng mục, cũng cháy, cũng bị mối, nên bản gốc gần như không bao giờ còn.
Thứ ta có hôm nay hầu hết là bản sao của bản sao, cách bản đầu tiên nhiều thế kỷ. Đây là tình trạng chung của thư tịch cổ trên thế giới, không riêng vùng này.
Chép tay và những gì xảy ra trong lúc chép
Chép tay là công việc nặng nhọc và dễ sai. Các lỗi phổ biến đã được nghiên cứu kỹ: nhảy dòng khi hai dòng có chữ giống nhau, chép nhầm chữ gần giống mặt chữ, viết sai chữ đồng âm.
Ngoài lỗi vô ý còn có sửa có ý. Người chép gặp chỗ họ cho là sai thì sửa lại cho hợp lý; gặp chỗ tối nghĩa thì thêm mấy chữ cho dễ hiểu. Với họ đó là làm việc tốt.
Có cả trường hợp thêm hẳn đoạn. Một bài bàn của người chép được ghi ở lề, đời sau chép tiếp thì đưa luôn vào thân bài. Sau vài đời không ai phân biệt được nữa.
Vì thế cùng một tác phẩm có thể tồn tại ở nhiều dòng bản khác nhau, mỗi dòng mang một tập hợp sai khác riêng. Việc dựng lại quan hệ họ hàng giữa các bản là nghề của văn bản học.
Điều này không có nghĩa mọi bản đều vô giá trị. Ngược lại, chính việc so nhiều bản mới cho phép phát hiện chỗ nào là sai sót muộn và chỗ nào có ở mọi dòng bản.
Khắc ván và ấn bản
Kỹ thuật in khắc ván đổi hẳn cục diện. Một bộ ván có thể in ra hàng trăm bản giống hệt nhau, nên một dòng bản có thể lan rất rộng và ổn định trong thời gian dài.
Nhưng nó cũng có mặt trái: nếu bản dùng để khắc có lỗi thì lỗi ấy được nhân lên hàng trăm lần và trở thành cách đọc phổ biến. Nhiều lỗi tồn tại tới nay bắt nguồn từ một bộ ván như vậy.
Việc sửa ván sau khi đã khắc rất tốn công, nên người ta thường sửa bằng cách khắc lại một mảnh nhỏ chèn vào. Dấu vết của những chỗ vá ấy là manh mối cho người nghiên cứu bản in.
Ở Việt Nam, nhiều bộ ván khắc được lưu tại chùa và các dòng họ. Việc bảo quản phụ thuộc vào sự tồn tại của cơ sở đó, nên chiến tranh và thời cuộc ảnh hưởng trực tiếp tới thứ còn lại tới nay.
Khi đọc một bản in cổ, biết nó thuộc đợt khắc nào và ở đâu là thông tin có giá trị, vì các đợt khắc khác nhau có thể dựa trên các bản đáy khác nhau.
Hiệu đính và dịch: hai lần lựa chọn nữa
Người hiệu đính đứng trước nhiều bản khác nhau và phải chọn: chỗ này theo bản nào, chỗ kia sửa hay giữ. Mỗi lựa chọn đều có lý do, và bản hiệu đính tốt bao giờ cũng ghi rõ lý do ấy ở phần chú.
Với người đọc phổ thông, phần chú ấy thường bị bỏ qua, thậm chí bị lược khi tái bản cho gọn. Nhưng chính nó mới là chỗ cho biết bản trên tay được dựng thế nào.
Tới lượt dịch giả lại là một loạt lựa chọn nữa: chọn nghĩa nào cho một chữ đa nghĩa, giữ hay bỏ chữ dè dặt, dịch sát hay dịch thoáng. Không có bản dịch trung tính; mọi bản dịch đều là một cách đọc.
Bản dịch từ một bản dịch khác thì cộng dồn hai lớp lựa chọn ấy. Với những khái niệm nhạy như khí, mệnh, đạo, hai lớp đủ để làm lệch hẳn nội dung.
Vì vậy tiêu chí thực tế khi chọn sách vẫn là tính minh bạch: sách có nói rõ dựa trên bản đáy nào, dịch từ ngôn ngữ nào, và giữ lại chú thích hay không.
Một thói quen đọc cho người không chuyên
Không cần thành nhà văn bản học mới đọc được sách cổ. Chỉ cần vài thói quen nhỏ là đã tránh được phần lớn ngộ nhận.
Thói quen thứ nhất là đọc phần lời nói đầu và phần chú thích. Đó là nơi người làm sách nói cho ta biết họ đã làm gì, và bỏ qua nó là tự bịt mắt.
Thói quen thứ hai là ghi lại nguồn khi trích. Trích một câu thì ghi luôn sách nào, bản nào, trang nào. Về sau gặp mâu thuẫn còn lần lại được.
Thói quen thứ ba là cảnh giác với những câu trích ngắn không nguồn, nhất là khi chúng quá gọn và quá hợp với điều người trích muốn nói. Rất nhiều câu lưu truyền như của cổ nhân không tìm được trong bất kỳ bản văn nào.
Thói quen thứ tư là chấp nhận rằng có chỗ không xác định được. Nói không rõ về một điểm còn tranh cãi là thái độ đúng, không phải yếu kém; và đó cũng là nguyên tắc mà trang này tự đặt cho mình.
Câu hỏi thường gặp
Bản gốc của các sách cổ có còn không?
Hầu như không. Thứ còn lại là các bản sao và bản in đời sau, cách bản đầu tiên nhiều thế kỷ. Đây là tình trạng chung của thư tịch cổ trên thế giới.
Vì sao các bản khác nhau ở nhiều chỗ?
Vì chuỗi truyền bản đi qua chép tay, khắc ván, hiệu đính và dịch, mỗi chặng đều có thể thêm bớt và sửa. Việc so sánh các dòng bản chính là công việc của văn bản học.
Đọc bản dịch có thiệt thòi lắm không?
Có mất mát, nhất là ở các khái niệm đa nghĩa. Nhưng một bản dịch minh bạch, có chú thích và nói rõ bản đáy thì vẫn là cửa vào tốt cho người không đọc được nguyên bản.
Làm sao biết một câu trích có thật trong sách không?
Truy về bản văn cụ thể: tên sách, thiên mục, và tốt nhất là đối chiếu ít nhất hai bản. Câu trích ngắn, không nguồn, và quá vừa vặn với luận điểm người trích thì nên hoãn tin.
Trang này dùng nguồn nào cho các bài?
Bài trình bày những nét đã được giới nghiên cứu thảo luận rộng rãi, cố ý không nêu niên đại hay tên tác giả cho những điểm còn tranh luận, và nói rõ chỗ nào chưa chắc chắn.